Các bệnh virus thường gặp trên tôm

Mật độ nuôi tôm công nghiệp cao như hiện nay tạo môi trường lý tưởng cho các loại virus nguy hiểm lây lan. Điều này gây thiệt hại lớn về kinh tế và khiến nhiều nông dân bất bình. Bài viết hôm nay nêu ra 5 căn bệnh nguy hiểm do virus gây ra.

  1. Bệnh cơ hoại tử: Hoại tử cơ là một trong những bệnh nhiễm virus trên tôm gây thiệt hại nghiêm trọng nếu người nuôi không chú ý quản lý con giống và môi trường nước ao nuôi hợp lý. Bệnh hoại tử cơ do virus hoại tử cơ truyền nhiễm (IMNV) gây ra. Sự lây lan của IMNV là do quá trình vận chuyển tôm thẻ chân trắng bố mẹ (TTCT) giữa các châu lục khác nhau.
    IMNV thường xảy ra khi tôm được 45 ngày tuổi trở lên, ban đầu có màu trắng ở đuôi và cơ bụng, sau đó lan dần ra toàn thân. Tôm bị táo bón, virus IMNV khu trú ở mô liên kết, cơ xương, hệ bạch huyết, thực bào và ẩn trong tế bào chất.
    Ở mức độ nặng, bệnh có thể gây hoại tử và tấy đỏ các cơ này, đặc biệt là phần dưới đuôi (dễ nhầm với hội chứng taura ở tôm).
    Về phương thức lây truyền, IMNV lây nhiễm theo chiều dọc từ cá bố mẹ sang ấu trùng. Tôm khỏe ăn tôm bệnh, nhiễm theo chiều ngang, lây lan theo dòng nước. 

2. Bệnh đốm trắng trên tôm

Virus gây hội chứng bạch biến trên tôm là virus gây hội chứng đốm trắng. Virus sống trong lõi và có hình bầu dục. Bạch biến do virus là bệnh cấp tính, WSSV có độc lực cao, bạch biến có thể chưa được phát hiện. Từ khi bùng phát đến khi tôm chết chỉ 2-3 ngày.
Virus tấn công nhiều mô khác nhau, thường là tế bào biểu mô da. Đốm trắng do virus xuất hiện dày đặc hơn đốm trắng do vi khuẩn, với kích thước đồng đều 0,5–2,0 mm bên trong vỏ và có một đốm đen ở giữa. Tôm giai đoạn cuối nổi đốm trắng khắp thân, phần vỏ nhiễm bệnh dễ bong ra. WSSV gây chết người ở tất cả các giai đoạn trong vòng đời của tôm.
Các triệu chứng phổ biến nhất của đốm trắng trên tôm là đột ngột ăn nhiều, sau đó giảm dần, chậm bơi trên mặt nước, dạt vào bờ ao và thịt tôm hơi đục. Nó thường phát triển sau 1 đến 2 tháng kể từ khi khởi phát, nhưng những đốm trắng khó nhìn thấy trong giai đoạn này vì tôm còn nhỏ.

3. Bệnh hoại tử cơ quan tạo máu.

Hoại tử biểu mô tạo máu (IHHNV) do vi rút hoại tử biểu mô tạo máu và dưới da truyền nhiễm gây ra. Sau khi xâm nhập vào cơ thể tôm, virus phá hủy các tế bào biểu mô đầu, đuôi, cơ quan tạo máu, hệ bạch huyết, tế bào thần kinh và râu, lây nhiễm theo cả chiều dọc và chiều ngang dẫn đến hoại tử mô và chết tế bào vật chủ. .
Khi bệnh xảy ra, những con tôm nhiễm bệnh còn sống sót cũng mang virus suốt đời và truyền virus cho thế hệ sau (truyền dọc) và lây nhiễm theo chiều ngang cho các tôm khác trong ao. TTCT bị nhiễm IHHNV có dị tật giảm sản, với đầu cong, biến dạng, râu xoăn và lớp vỏ bên ngoài xù xì. Lưng và đuôi có hình dạng bất thường.
Tôm mang mầm bệnh sẽ bị bệnh khi điều kiện ao nuôi kém và hệ thống miễn dịch bị suy yếu. Tôm bệnh khi quan sát trong ao nuôi thường có các triệu chứng tương tự như các bệnh khác như chán ăn, bỏ ăn, bơi lờ đờ trên mặt nước. 

4. Bệnh đầu vàng ở tôm.

Bệnh đầu vàng (YHD) do một loại vi-rút hình que có tên là vi-rút đầu vàng gây ra.  Bệnh đầu vàng thuộc nhóm bệnh virus phổ biến trên tôm nuôi công nghiệp, bao gồm tôm sú, tôm bạc và tôm thẻ chân trắng. Tôm nhiễm bệnh đầu vàng có tỷ lệ chết rất cao, lên tới 60-70%. Nó gây thiệt hại kinh tế nghiêm trọng cho người nuôi tôm.
YHD được coi là bệnh cấp tính do khởi phát nhanh. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh đầu vàng là trong một thời gian ngắn tôm đột ngột ăn nhiều hơn bình thường, đột ngột bỏ ăn hẳn, 2-3 ngày sau tôm bơi chậm và dạt vào bờ. và chết.
Đầu, mang và gan tụy chuyển sang màu vàng nhạt hoặc nâu, toàn thân nhợt nhạt, mất màu đặc trưng, ​​đầu ngực phình to. Tuy nhiên, những dấu hiệu này không phải lúc nào cũng rõ ràng. Để có kết quả chính xác nhất, mẫu tôm nên được xét nghiệm bằng công nghệ PCR. 

5.  Kết luận
Hiện nay, bệnh do virus gây ra chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Vì vậy, các biện pháp phòng bệnh cần được nhóm lại theo các biện pháp phòng bệnh tổng hợp như:  Con giống chọn lọc, giống tôm tốt, sạch bệnh, có giấy chứng nhận kiểm dịch. Nguồn nước phải được lọc và xử lý trước khi cấp vào ao nuôi. Diệt trừ các vật trung gian truyền bệnh như giáp xác, nhuyễn thể. Quản lý, theo dõi chặt chẽ môi trường ao nuôi, thường xuyên kiểm tra màu sắc, khả năng bắt mồi và sức khỏe tôm để phát hiện kịp thời. Tăng cường bổ sung vitamin C, men vi sinh, khoáng và chế phẩm vi sinh hỗ trợ vào khẩu phần ăn của tôm.

Nguyễn Trang

See all author post

Leave a Comment

Your email address will not be published.

X