Giải pháp phòng bệnh teo gan, trống ruột (EMS) trên tôm hiệu quả nhất

Hội chứng chết sớm (EMS) hay còn gọi là hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS) gây chết hàng loạt cả tôm sú và tôm thẻ chân trắng.
Trong những năm gần đây, bệnh hoại tử gan tụy và bệnh Ems đã trở thành “mối lo lớn của người nuôi tôm” trên toàn thế giới, đặc biệt là ở Việt Nam. Các nhà khoa học đã tìm ra nguyên nhân gây ra hội chứng chết sớm/hoại tử gan tụy cấp (EMS/AHPNS) nhưng đến nay vẫn chưa có phác đồ điều trị đặc hiệu.
Bệnh EMS thường xảy ra ở tôm từ giống đến trưởng thành và trầm trọng hơn khi nhiệt độ cao, độ mặn, pH ao nuôi và nồng độ oxy hòa tan thấp. 

Tác nhân gây bệnh EMS trên tôm

Đối với bệnh EMS, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tôm có thể chết sau khi nhiễm mầm bệnh, đôi khi chỉ sau khi tiếp xúc với mầm bệnh dưới 12 giờ. Bệnh lây lan nhanh do phân và tôm chết. Đây cũng là lý do tại sao tôm nhiễm bệnh rất khó điều trị và không hiệu quả, chưa kể các chủng Paravibrio gây bệnh EMS có khả năng kháng kháng sinh rất cao. 

Biện pháp phòng bệnh EMS trên tôm
Đảm bảo hạt giống sạch bệnh EMS
Khi gan tụy sau ấu trùng có màu trắng đục và không có chất béo (lipid béo) thì cá bột này bị nhiễm Vibrio với mật độ 107 khuẩn lạc/g trước khi đưa vào ao nuôi, tôm chết sau 20 ngày là bình thường. của vớ.

Xử đáy ao
Vibrio parahaemolyticus là một mầm bệnh cơ hội phát triển nhanh chóng bằng cách hình thành màng sinh học gắn với bề mặt chitinous. Vi khuẩn tồn tại dưới dạng u nang và có thể không hoạt động trong thời gian dài trong điều kiện khô ráo. Trong điều kiện lý tưởng, Vibrio cholerae nói riêng có thể tồn tại tới 60 năm trong điều kiện khô ráo. 

Bùn lắng đọng dưới đáy ao là trở ngại lớn đối với chất lượng nước ao nuôi. Bùn không chỉ tiêu thụ một lượng lớn oxy mà còn giữ nhiệt và các chất dinh dưỡng dư thừa. Các mảnh vụn thức ăn đọng lại hoặc bị cuốn vào khu vực này sẽ bị nhiễm vi khuẩn và cuối cùng bị tôm ăn phải. Indonesia trước đây không có AHPND. Không phải ngẫu nhiên mà bạn hoàn toàn không bị EMS/AHPND. Một đáy ao sạch sẽ giúp. Tránh can thiệp vào khu vực lầy lội. Các thí nghiệm yêu cầu số lượng vi khuẩn là 10^8 cfu/ml để lây nhiễm cho tôm. Không có trường hợp tử vong nào ở mức 10^4 CFU/ml.
Có biện pháp cắt đứt mầm bệnh EMS trong ao bệnh bằng luân canh, đa canh, cày đáy ao đủ thời gian phơi và cấy, luân canh tôm – lúa, tôm – cá, nuôi ghép với cá hoặc trong bể lắng. đã được thực hiện và rất quan trọng để hạn chế khả năng phát triển và lây lan mầm bệnh EMS. cung cấp nước
Chủ động tưới nước ngay từ đầu vụ nuôi, không cho nước vào ao nuôi khi có dịch bệnh. Cần có ao dự trữ, ao lắng hoặc ao xử lý trước khi cho vào ao nuôi. Diệt mầm bệnh bằng Chlorine hoặc TCCA, GuDo theo liều lượng hướng dẫn để ngăn chặn vi khuẩn, vi rút, ký sinh trùng và các mầm bệnh khác xâm nhập vào ao nuôi.
Dù trái mùa hay trái vụ, tôm cũng bị bệnh như nhau, đặc biệt là bệnh EMS. Để giảm thiểu thiệt hại do dịch bệnh, bà con nên chuẩn bị sẵn các thiết bị phù hợp (như máy sục khí), ao nuôi và ao lắng mật độ thấp trong quá trình nuôi, thường xuyên tưới nước cho ao xử lý nước và ao có tảo nên được theo dõi. Để đảm bảo tôm phát triển tốt và ngăn chặn sự phát sinh của bệnh EMS, ao sẽ kiểm tra môi trường nước, kiểm soát mật độ vi khuẩn Vibrio/ml nước trước khi thả nuôi, đảm bảo nồng độ oxy hòa tan luôn ở mức cao và duy trì nồng độ oxy cao. Độ pH của ao được đảm bảo trong khoảng từ 7,8 đến 8,2 nếu được duy trì và độ mặn trong ao và nhiệt độ nước không được quá cao.

Mực nước trong ao cũng phải phù hợp: Đối với 1,2-1,4 m luôn tiến hành sát trùng thường xuyên trong ao. Ao có tôm bệnh cần được vệ sinh kỹ lưỡng, khoanh vùng, cách ly, không xả nước thải, không thải tôm chết ra môi trường. 

Nuôi kết hợp tôm phi
Kết quả nghiên cứu về nuôi hỗn hợp tôm và cá rô phi cho thấy cá rô phi giúp thiết lập hệ sinh thái vi sinh vật trong nước ao nuôi với quần thể vi khuẩn và tảo cân bằng, trong hệ sinh thái vi sinh vật thu hoạch, vi khuẩn gây bệnh khó có thể phát triển với mật độ đủ để gây bệnh cho tôm. Sự hiện diện của cá rô phi cũng làm cho những thay đổi vi sinh lớn này ít xảy ra hơn.
Ngay khi hệ vi sinh vật trong ao có những thay đổi lớn, ví dụ: tảo trong ao sẽ bị suy giảm và vi khuẩn gây bệnh rất có khả năng phát triển và gây bệnh cho tôm. , đồng thời ăn tôm chết, tôm bệnh để hạn chế lây lan dịch bệnh. Trong những điều kiện này, vi khuẩn gây bệnh EMS khó có thể phát triển với mật độ đủ để gây bệnh. 

Nguyễn Trang

See all author post

Leave a Comment

Your email address will not be published.

X