Thảo dược và tính kháng khuẩn đối với vi khuẩn gây bệnh trên tôm nuôi

Các trang trại nuôi tôm hiện nay được đầu tư và phát triển theo hướng bền vững, thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, việc thâm canh nâng cao năng suất cộng với điều kiện biến đổi khí hậu ở các bãi nuôi đã làm gia tăng tình trạng dịch bệnh ở hầu hết các mô hình nuôi tôm thương phẩm. Đặc biệt, có một số bệnh như hoại tử gan tụy cấp, phân trắng gây thiệt hại lớn về kinh tế.
Hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) là bệnh do vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus gây ra. AHPND đã được chứng minh là có thể giết chết tới 100% tôm trong vòng 20 đến 30 ngày sau khi tiêm. Tôm nhiễm bệnh có biểu hiện lờ đờ, biếng ăn, teo gan tụy, màu sắc nhợt nhạt cứng, ruột rỗng hoặc bị vỡ. Ngoài ra, phân tích mô học, kèm theo các dấu hiệu khác như mềm vỏ, đốm đen và đốm cephalothorax, cho thấy bệnh chủ yếu ảnh hưởng đến gan tụy của tôm (Lightner et al., 2013). .

Bệnh phát sáng do V. harveyi gây ra:
Bệnh thường gặp ở ao nuôi có độ mặn cao (>15%). Vi khuẩn này phát triển mạnh khi nhiệt độ nước ấm, nồng độ chất hữu cơ cao và nồng độ oxy hòa tan thấp. Những vi khuẩn này tiết ra enzyme phát quang luciferase khiến tôm phát sáng. Năm 1990, Lavilla-Pitogo et al. Các dấu hiệu thực thể của tôm bị nhiễm V. harveyi được mô tả như sau:
Thân màu đỏ thẫm hoặc đỏ, mai mỏng manh với những đốm nâu hoặc đen, mang màu hồng hoặc nâu, cơ đục, ruột rỗng. Ngoài ra, ấu trùng nhiễm bệnh còn có các biểu hiện lờ đờ, giảm ăn và chậm lớn, thoái hóa mô gan tụy dẫn đến hoại tử, gia tăng tỷ lệ chết (Robertson và cs., 1998). Các chủng V. harveyi độc lực gây ra các vụ dịch cấp tính với tỷ lệ chết 50-100%.
Có nhiều nghiên cứu trên thế giới chứng minh công dụng của chiết xuất thảo dược giúp tôm, cá tăng trưởng, tăng cường hệ miễn dịch, ức chế mầm bệnh đã được xác định về hoạt tính sinh học cao, cũng như khả năng kháng virus, kháng nấm, ký sinh trùng, tăng trưởng. các đặc tính kích thích, trưởng thành tuyến sinh dục, chống căng thẳng và tăng cường miễn dịch.

Ngoài ra, nó rẻ tiền, dễ bào chế, chỉ cần ăn vào là có hiệu quả phòng bệnh cao, ít tác dụng phụ trong quá trình điều trị, không gây ô nhiễm môi trường, không gây hại cho sức khỏe con người và nhiều ưu điểm khác. thảo mộc. Tại Việt Nam, hoạt tính diệt khuẩn của dịch chiết lá sim và hạt sim (Rhdomyrtus tomentosa) đối với vi khuẩn gây hoại tử gan tụy cấp đã được đo, cho kết quả đường kính vòng vô trùng của chủng Vibrio parahaemolyticus KC13.14.2 là 18 mm. Ở V. parahaemolyticus KC12.02.0, ở chủng Vibrio sp là 19,3 mm. KC13.17.5. 

Điều tra chọn dược liệu thích hợp chống Vibrio
Nghiên cứu của Hồng Mộng Huyền và Võ Tấn Huy xem xét hoạt tính kháng khuẩn của 7 loại thảo mộc (thầu dầu, lưỡi rắn, mật gấu, chùm ngây, lược vàng, cẩm quỳ, bo bo) đối với vi khuẩn V. harveyi và V. parahaemolyticus đã được thực hiện. vì Gây bệnh cho tôm nuôi. Nghiên cứu này được thực hiện trên 7 loại thảo mộc từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long.
Quy trình chiết xuất thảo dược như sau.
Các loại thảo mộc được rửa sạch, sấy khô ở 600°C và nghiền thành bột. Bột thảo mộc ngâm trong methanol theo tỷ lệ 1:10 trong 3 ngày. Dịch chiết sau đó được đưa qua giấy lọc Whatman #1 và quay ở 480°C trong chân không để loại bỏ dung môi.
Kết quả ghi nhận:
Bảy dịch chiết có hoạt tính kháng khuẩn khác nhau, trong đó dịch chiết dầu thầu dầu có hiệu lực cao nhất khi đường kính vòng vô khuẩn là 17-18 mm, tiếp đến là dịch chiết cây mật gấu, cây cẩm quỳ và sài đất có đường kính 17-18 mm. Ngược lại, đường kính vòng vô trùng nhỏ nhất ở cả hai chủng vi khuẩn thu được từ dịch chiết lưỡi rắn và lược vàng có chứa vòng kháng khuẩn lần lượt là 7 mm và 8 mm. Kết quả cho thấy ngay trong dịch chiết hạt thầu dầu, V. harveyi, V. Viêm ruột với giá trị MIC (Nồng độ ức chế tối thiểu) và MBC (Nồng độ diệt khuẩn tối thiểu) lần lượt là 1,25 mg/mL và 2,5 mg/mL. 2,5 mg/ml và 5,0 mg/ml.
Kết quả nghiên cứu cho thấy chiết xuất dầu thầu dầu có hoạt tính kháng khuẩn cao nhất trong số 7 chiết xuất thảo mộc được nghiên cứu, cao hơn cả parahaemolitycus. Vì vậy, dựa trên kết quả thu được, dịch chiết dầu thầu dầu có thể được sử dụng như một loại thuốc diệt nấm và có thể giúp tôm nuôi làm nguồn thức ăn tăng khả năng chống lại vi khuẩn V. harveyi gây bệnh, V. parahaemolitycus gây hoại tử gan tụy cấp tính.

Thảo dược là chế phẩm tự nhiên có thể thay thế hoàn hảo kháng sinh để phòng và trị bệnh trong nuôi trồng thủy sản, sử dụng thảo dược còn được chứng minh là ít tốn kém chi phí và không gây độc hại trong quá trình điều trị, đây là hướng đi bền vững giúp người dân sản xuất sạch, an toàn đồ ăn. 

Nguyễn Trang

See all author post

Leave a Comment

Your email address will not be published.

X