Vermiform và mối liên hệ với hội chứng phân trắng trên tôm

Cấu trúc giống giun nhìn bề ngoài giống như gregarin và thường được tìm thấy trong gan tụy của tôm nuôi. Chúng không phải là những sinh vật độc lập mà là kết quả của quá trình sửa đổi, lột xác và tập hợp các vi nhung mao từ các tế bào biểu mô gan tụy. Các tế bào biểu mô bị loại bỏ trải qua quá trình ly giải, một quá trình ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng và tỷ lệ sống của tôm, và trong những trường hợp rất nghiêm trọng, có thể dẫn đến hiện tượng gọi là hội chứng phân trắng (WFS).   Bên cạnh các bệnh thường gặp như hoại tử gan tụy cấp, đỏ thân, đốm trắng… thì bệnh phân trắng do Vermiform ngày càng phổ biến.

Vermiform không phải là ký sinh trùng

Bên cạnh những nguyên nhân gây hội chứng phân trắng cho tôm thẻ chân trắng hiện nay như vi khuẩn, ký sinh trùng, môi trường ao nuôi ô nhiễm… Vermiform là một trong những nguyên nhân phổ biến nhất hiện nay. Vermiform có hình dạng tương tự như ký sinh trùng Gregarine, nên thường được chẩn đoán nhầm.

Vermiform là kết quả của quá trình bệnh lý

Nguyên nhân dẫn đến hình thành Vermiform hiện chưa rõ, nhưng sự hình thành Vermiform do mất vi nhung mao và sự ly giải tế bào sau đó, cho thấy đây là một quá trình bệnh lý

Kiểm tra lại các mẫu bệnh phẩm gan tụy bằng kính hiển vi ánh sáng cho thấy ký sinh trùng có hình dạng gần như trong suốt với chiều rộng và đường kính tỷ lệ thuận với ống gan tụy bị nhiễm khuẩn .Vermifoam không có cấu trúc tế bào. Ở độ phóng đại 40x đến 100x, quan sát thấy ruột thừa bao gồm một lớp màng mỏng bên ngoài bao quanh một phức hợp màng dày tạo thành các nếp gấp phức tạp . Kiểm tra dưới kính hiển vi điện tử truyền qua cho thấy màng hình con sâu không giống với màng tế bào hoặc màng ngoài của các loài sinh vật đơn bào, động vật nguyên sinh hoặc động vật đa bào đã biết khác. Vermiforms thiếu các bào quan nội bào như ty thể, nhân, mạng lưới nội chất và ribosome.  

Lớp nội mạc giống như giun đã được chứng minh là phát sinh từ sự thay đổi của vi nhung mao trong ống gan tụy. Các tế bào gan tụy là những tế bào đầu tiên bị ly giải khi các vi nhung mao bị mất. Ngược lại, các tế bào B vẫn còn nguyên vẹn hoặc tách biệt hoàn toàn độc lập với biểu mô ống gan tụy.

Mặc dù nguyên nhân của sự thay đổi vi nhung mao trong ống gan tụy hiện chưa rõ, nhưng sự hình thành ruột thừa là do mất vi nhung mao và tiêu bào trong ống gan tụy, cho thấy sự hình thành của nó là một quá trình bệnh lý. Nếu đủ mạnh, nó có thể ức chế sự phát triển của tôm và khiến tôm tiếp xúc với mầm bệnh cơ hội.  

Dấu hiệu bệnh lý hội chứng phân trắng trên tôm:

Dấu hiệu của hội chứng phân trắng WFS bao gồm sự xuất hiện của các sợi phân màu trắng đến hơi vàng đôi khi phát hiện trên mặt nước hoặc cũng có thể được tìm thấy trên sàn cho ăn. Kiểm tra tôm từ các ao có biểu hiện của WFS cho thấy rằng ruột có màu từ trắng đến vàng. Khi quan sát  ruột bằng kính hiển vi quang học phát hiện nhiều cấu trúc Vermiform giống như các gregarines

Sự hiện diện của giun ăn mạnh có thể khiến tôm tạo thành chuỗi phân trắng và nhiều tôm trong cùng một ao có thể dẫn đến chuỗi phân nổi. Hiện tượng này thường xảy ra từ 2 tháng nuôi và có thể dẫn đến tỷ lệ chết cao. Ký sinh trùng cũng có thể xuất hiện trong các bệnh về gan tụy của tôm như AHPND và các loại bệnh nhiễm trùng do vi khuẩn và ký sinh trùng khác. Tuy nhiên, cần điều tra thêm về mối quan hệ giữa WFS và AHPND để đưa ra kết luận chính xác.  

Ảnh hưởng như thế nào đến tôm?

Sự có mặt của các loài gây hại ảnh hưởng đến quá trình tiêu hóa và hấp thụ chất dinh dưỡng của tôm nuôi. Đồng thời, tỷ lệ sống giảm, tôm chậm lớn, dễ bị nhiễm các tác nhân gây bệnh cơ hội như vi khuẩn, vi rút. Các tác nhân cơ hội sử dụng trên tôm nuôi gây ra hội chứng phân trắng. 

Làm thế nào để ngăn chặn bệnh?
Ký sinh trùng hiện có thể được phát hiện bằng cách kiểm tra bằng kính hiển vi gan tụy và ruột của tôm. Vì vậy, người dân nên kiểm tra mẫu tôm thường xuyên để phát hiện sớm và có biện pháp khắc phục kịp thời.
Vì giun không phải là ký sinh trùng nên hạn chế sử dụng hóa chất dùng để điều trị ký sinh trùng. Nên chọn sản phẩm có chiết xuất từ ​​thảo dược để giảm tổn thương cho gan và đường ruột.
Cần kết hợp đánh giá tình trạng mật độ và hình dạng gan, ruột, ruột thừa để có biện pháp điều trị thích hợp nhất.  

Nguyễn Trang

See all author post

Leave a Comment

Your email address will not be published.

X