Tác dụng của acid hữu cơ trong nuôi trồng thủy sản

Việc sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản gây ra rủi ro về sức khỏe cộng đồng do sự tích lũy sinh học của dư lượng kháng sinh và các nhà nghiên cứu cho rằng việc lạm dụng kháng sinh trong các trang trại là vì lợi ích kinh tế ngắn hạn cho động vật thủy sinh đang được nghiên cứu.
Các hoạt động nuôi trồng thủy sản gia tăng dẫn đến dịch bệnh thường xuyên bùng phát và gây thiệt hại kinh tế lớn cho nông dân. Sau khi phát hiện ra khả năng thúc đẩy tăng trưởng và ngăn ngừa bệnh tật của chúng, một lượng lớn kháng sinh đã được sử dụng trong ngành nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là ở châu Á, để ngăn ngừa và/hoặc kiểm soát nhiễm trùng do vi khuẩn gây ra. Việc sử dụng rộng rãi nhiều loại kháng sinh trong ngành nuôi trồng thủy sản cho cả mục đích điều trị và thúc đẩy tăng trưởng đã làm tăng các tác động bất lợi tiềm ẩn đối với sức khỏe con người, động vật và môi trường nước. Sự xuất hiện kháng thuốc kháng sinh ở các mầm bệnh vi khuẩn khác nhau liên quan đến các bệnh thủy sản đã được chứng minh rõ ràng. Việc sử dụng kháng sinh trong nuôi trồng thủy sản gây ra rủi ro về sức khỏe cộng đồng do sự tích lũy sinh học của dư lượng kháng sinh và các nhà nghiên cứu cho rằng việc lạm dụng kháng sinh trong các trang trại là vì lợi ích kinh tế ngắn hạn. dẫn đến việc cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi. Lệnh cấm sử dụng kháng sinh liều thấp vào tháng 1 năm 2006 ở Liên minh Châu Âu đã khởi xướng một nỗ lực toàn cầu nhằm giảm thiểu và cuối cùng là loại bỏ việc sử dụng kháng sinh để thúc đẩy tăng trưởng trong nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi. Việc phát triển các giải pháp thay thế không dùng kháng sinh hiệu quả đối với việc sử dụng kháng sinh trong phòng chống dịch bệnh để chống lại dịch bệnh và cải thiện năng suất tăng trưởng là rất quan trọng đối với sự phát triển liên tục của ngành nuôi trồng thủy sản toàn cầu. Trong những trường hợp này, axit hữu cơ và muối của chúng được sử dụng làm chất phụ gia trong thức ăn cho động vật thủy sản đang được nghiên cứu. 

Axit hữu cơ là gì?

Axit hữu cơ là hợp chất hữu cơ có một hay nhiều nhóm cacboxyl. Chúng bao gồm axit cacboxylic không bão hòa đơn, mạch thẳng và bão hòa dưới dạng axit không bão hòa (quế, axit sorbic), hydroxy (chanh, axit lactic), phenolic (axit benzoic), axit cinnamic, axit salicylic) và axit cacboxylic đa chức. ) và các đạo hàm tương ứng của chúng. Axit có cấu trúc phân tử chung R-COOH (azelaic, citric, succinic). trong đó R đại diện cho một nhóm chức năng có hóa trị là 1. Các axit này thường được gọi là axit béo chuỗi ngắn, axit béo dễ bay hơi hoặc axit cacboxylic yếu.



Axit hữu cơ được sản xuất bằng cách lên men carbohydrate bởi các loài vi khuẩn khác nhau trong các quá trình và điều kiện trao đổi chất khác nhau. Một số axit hữu cơ có trọng lượng phân tử thấp, chẳng hạn như axit axetic, axit propionic và axit butyric, cũng được tạo ra ở nồng độ cao bởi cộng đồng vi sinh vật kỵ khí trong ruột già của người và động vật. Nhiều axit hữu cơ chuỗi ngắn (C1-C7) xuất hiện tự nhiên như là thành phần phổ biến của mô thực vật và động vật. Tuy nhiên, hầu hết các axit hữu cơ được sử dụng thương mại trong ngành công nghiệp thực phẩm và thức ăn chăn nuôi đều được sản xuất tổng hợp. Axit hữu cơ cũng có thể kết hợp với K, Na, Ca,… để tạo thành muối đơn hoặc muối kép.

Nghiên cứu gần đây về axit hữu cơ và động vật thủy sinh chủ yếu tập trung vào khả năng tăng cường hấp thụ phốt pho và các khoáng chất khác của chúng. Ngoài ra còn có các tác dụng khác như:
Ức chế sự phát triển của vi sinh vật có hại (nấm mốc, nấm men, mầm bệnh) trong môi trường sống, thức ăn và trong cơ thể động vật thủy sản; tăng tốc độ tăng trưởng, tăng hệ số chuyển hóa thức ăn.

Tác dụng đối với mầm bệnh và hệ vi sinh vật đường ruột của vật chủ

Bột cá, thức ăn và axit hóa thức ăn giúp kiểm soát sự phát triển của vi sinh vật trong điều kiện bảo quản. Axit hữu cơ và phụ gia thức ăn có thể có lợi như chất điều chỉnh môi trường ruột (GEMs). Trong thức ăn chăn nuôi và trong ruột, các axit hữu cơ như axit formic, axit benzoic và axit furamic ức chế sự phát triển của vi khuẩn. 

Tác dụng thúc đẩy tăng trưởng
 muối của chúng được sử dụng rộng rãi làm chất phụ gia trong thức ăn chăn nuôi (còn gọi là chất không kháng sinh) để thay thế kháng sinh. Trong dinh dưỡng động vt, axit hữu cơ và muối của chúng cải thiện năng suất vật nuôi theo nhiều cách.
Nó cung cấp cho đường tiêu hóa và ảnh hưởng đến qá trình trao đổi chất của động vật.
Trong thực phẩm: Ngay cả trong điều kiện môi trường vệ sinh, thức ăn nuôi trồng thủy sản có thể bị tấn công bởi một lượng nhỏ nấm mốc, nấm men và vi khuẩn. Trong điều kiện thích hợp, các vi sinh vật này phát triển nhanh chóng, đặc biệt ở độ ẩm cao (>14%). Chất bảo quản ức chế sự phát triển của vi sinh vật và giảm nguy cơ vi sinh vật gây bệnh bám vào tôm cá. Ngoài ra, axit còn hòa tan các thành phần thức ăn, giúp cải thiện năng suất vật nuôi. Hàm lượng protein cao trong chế độ ăn đảm bảo tốc độ tăng trưởng tốt ở con non, nhưng tạo ra một hệ thống đệm cao trong chế độ ăn và làm giảm axit hydrochloric trong dạ dày. Điều này kích hoạt pepsin và cũng làm giảm tiết các enzym tuyến tụy, do đó hạn chế quá trình tiêu hóa chất dinh dưỡng. Các axit hữu cơ được thêm vào làm giảm hệ thống đệm của thức ăn và cải thiện quá trình tiêu hóa thức ăn. 

Nguyễn Trang

See all author post

Leave a Comment

Your email address will not be published.

X